Kỳ II: Quảng Bình - Miền đất Danh nhân và Di sản

2018-05-03 09:35:25 admin

DN&TH; Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng. Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử. Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn- Hà- Cảnh - Thổ- Văn- Võ- Cổ - Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp...


Quảng Bình là thế, rất mộc, rất đời, rất thú vị nhưng rất tiếc là quá ít người hiểu được giá trị vô hình này để khai thác và cảm nhận.

Sau khi Kỳ I các bạn đã trải qua “Du lịch tâm linh – tâm hồn thanh tịnh, cầu sự bình an”. Chúng tôi tiếp tục mời quý vị tiếp tục trải nghiệm về miền đất Quảng Bình – Miền đất Danh nhân và Di sản với những chuyến đi trải nghiệm thú vị về miền đất và con người Quảng Bình.

Kỳ II: Du lịch cộng đồng – Thưởng thú làng cổ, hòa mình với biển.

Trong ca khúc vượt thời gian “Quảng Bình quê ta ơi”, nhạc sĩ Hoàng Vân ca ngợi: “Có ai về Cảnh Dương, quê tôi đứng nơi đầu sóng gió, truyền thống đánh giặc giữ làng mãi mãi còn đây...”. Đã đưa chúng ta về Cảnh Dương để nghe các bậc lão thành kể chuyện đánh Pháp năm xưa, thật hào hùng như một sử thi của làng biển... Nơi đây trong chiến tranh là nơi hứng chịu nhiều bom đạn, cũng là điểm tập kết, huấn luyện, đóng tàu, cùng những người chiến sỹ anh hùng của đoàn tàu không số.

Làng văn hóa du lịch Cảnh Dương.

Sông Loan, núi Phượng hữu tình

Bảng vàng, ấn ngọc phân minh chầu về.

(miêu tả của người xưa về Cảnh Dương)

Cảnh Dương là một trong 8 làng văn vật của Châu Bố Chính xưa (gồm: Sơn, Hà, Cảnh, Thổ(tức: Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa) và Văn, Võ, Cổ, Kim (tức: Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại)).

Làng biển Cảnh Dương thuộc địa phận huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Nằm ở hữu ngạn sông roòn, từ trên cao nhìn xuống, Cảnh Dương như một bán đảo nhỏ với ba bề là sông biển, chính vì vậy mà người xưa đã ví làng như một con thuyền đang hướng về biển cả.

Khi về với Cảnh Dướng chúng ta có một chuyến đi tham quan, trải nghiệm với các di tích, bờ tường và những ngôi nhà cổ đặc trưng của làng biển, nghe những câu chuyện về Làng chiến đấu kiểu mẫu, nghe các cụ (người lính tàu không số) kể về những chuyến tàu tập kết và tiếp tế cho miền Nam ruột thịt. Ngoài ra chúng ta còn ghé vào tham quan di tích Đình thờ Tổ của làng biển; Cung đường bích họa; Ngư Linh Miếu (Thờ những bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam); Nghĩa địa cá voi; Làng nghề làm nước mắn…

Làng Cảnh Dương cách Vũng chùa - Đảo yến khoảng 10km theo trục quốc lộ 1A. Xuất phát từ ý tưởng biến Cảnh Dương thành một làng văn hóa – du lịch kiểu mẫu, một điểm dừng chân, tham quan đặc sắc cho du khách sau khi viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sở du lịch Quảng Bình cùng với xã Cảnh Dương đã khảo sát, triển khai dự án “cung đường bích họa” trên những bức tường nhà và hàng rào cổ. Để bắt đầu cung đường bích họa, chúng ta bắt đầu từ “Đình thờ tổ”, khi chúng ta bước vào cung đường bích họa để chiêm ngưỡng những bức tranh 3D nối dài liên tiếp tuyệt đẹp và mang đầy cảm xúc. Tất cả đều tập trung tái hiện về các hoạt động văn hóa, lễ hội lao động sản xuất, trò chơi dân gian (như: Chèo cạn; Đua thuyền truyền thống; Tín ngưỡng thờ cá Ông, cá Bà…) và nhiều bức tranh phong cảnh quê hương khác. Khi chúng ta tản bộ dọc theo cung đường bích họa, chúng ta được xem lại câu chuyện về Cảnh Dương với dọc dài của lịch sử phát triển, tục thờ cá voi, làng chiến đấu anh hùng đến đời sống sinh hoạt của một làng biển.

Lịch sử lâu đời- Làng chiến đấu kiểu mẫu.

Tháng giêng năm Mậu Tuất (năm 1658), các bậc tiền hiền khai khẩn của làng đã họp lại và đặt tên làng là Cảnh Dương, từ đó địa danh thơ mộng và giàu truyền thống anh hùng này bắt đầu đi vào lịch sử. Như vậy, tính đến nay Cảnh Dương có 375 năm hình thành và phát triển. Với 375 năm trong những biến thiên lịch sử, với địa thế dựa vào Trường Sơn, hướng về biển cả bao la, dạt dào sóng vỗ, ngoài địa thế nên thơ – hữu tình sông nước thì cũng không thể không nói đến truyền thống của một làng chiến đấu kiểu mẫu, rào làng chiến đấu.

Trong thời kỳ chống Pháp, chính quyền Cách mạng được thiết lập ở Cảnh Dương từ rất sớm (21/8/1945). Từ lịch sử ghi nhận lại ngày27/3/1947 giặc Pháp đổ bộ vào Quảng Bình. Dân làng Cảnh Dương đã rào làng kháng chiến, dân làng đã dùng 28 chiếc ghe to ngăn sông, đóng cọc ở cửa lạch ngăn không cho ca-nô, tàu thủy của giặc vào làng. Nhân dân ở Cảnh Dương còn tháo dỡ cả cột nhà ra để rào làng, xây dựng hầm hào, chiến lũy bằng đá san hô, thùng nắm. Biến Cảnh Dương thành một pháo đài vững chắc. Suốt 9 năm (1946 – 1954), dân làng Cảnh Dương đánh trên 120 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu trên 300 tên địch. Làng Cảnh Dương đã đẩy lùi các đợt càn quét của giặc, vẫn kiên cường trụ vững và trở thành làng chiến đấu kiểu mẫu.

Đến thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Cảnh Dương là một trong những địa bàn trọng điểm bị đánh phá. Ngoài sản xuất giỏi, các lực lượng chiến đấu cả nam và nữ bám sát địa bàn chiến đấu. Lực lượng vận tải kiên trì bám trụ ngày đêm vận chuyển hàng vào Nam, tiêu biểu là chuyến tàu vận tải Hồng Kỳ trong chiến dịch VT5 hoặc là “đoàn tàu không số” của riêng Quảng Bình xuất phát từ Cảnh Dương (gồm đội thuyền 12 chiếc với 72 người), ngụy trang là thuyền đánh cá để chở vũ khí, lương thực vào chiến trường Trị Thiên – Huế sau tết Mậu Thân năm 1968. Với lực lượng tham gia sản xuất – chiến đấu của làng Cảnh Dương lên đường làm nhiệm vụ với khẩu hiệu “Lương không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Qua những chiến công đạt được Cảnh Dương đã nhận được nhiều huy hiệu, huân huy chương của nhà nước trao tặng và công nhận “Di tích lịch sử văn hóa làng chiến đấu Cảnh Dương”. Như, Huy hiệu Bác Hồ; Huân chương quân công hạng ba; Huân chương chiến công hạng 2; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Về với Cảnh Dương là các bạn đã về với mảnh đất “địa linh nhân kiêt”, với làng khoa bảng. Trong Quảng Bình – Tiểu học – Tràn Kinh có ghi: “Lại là hương hội khoa trường – Sơn Hà Cảnh Thổ xưa thường chiếm ngôi”. Tại Đình thờ tổ còn lưu giữ hai tấm bia khoa bảng của làng và được xem như hai bảo vật. Ở tấm bia lớn dựng năm Bính Thân, Minh Mệnh thứ 17 (1836) gọi tên là  “Cảnh Dương xã từ vũ bi ký”. Tấm bia này ghi tên các vị khoa bảng thời Lê, Trịnh với nhiều người nổi tiếng và khoa đồ trúng tuyển. Tấm bia khoa bảng thứ hai dựng năm Thành Thái thứ 12 (1900), bia ghi hai tiến sĩ, 7 cử nhân, 38 tú tài và nhiều người ra làm quan dưới triều Nguyễn.

Phố trong làng – Sự tích cá Ông, cá Bà

“Không nên danh phận thì thôi

Trở về đập đá nấu vôi cho làng”

Là câu ca dao cổ của làng, nói lên việc khai thác đá san hô về nấu vôi để mang ra dùng xây nhà, xây tường rào. Với hạ tầng kỹ thuật khá đồng bộ, nhà cửa san sát, hệ thống giao thông lối làng ngõ xóm ở đây được ví như “Phố trong làng”. Nét đặc trưng là một làng biển sống trên vùng đất toàn cát, tuy vậy thủa xưa người Cảnh Dương đã sơm tìm ra phương thức tối ưu trong kiến trúc nhà cửa, với nét chung là hầu hết đều có vách xây bằng đá san hô (hoặc đá biền, loại đá dẹt có màu nâu).

Về đây chúng ta được thăm thú trải nghiệm, thưởng thức nước nắm chính từ trong dân chế biến, nước nắm ở Cảnh Dương không chỉ nổi tiếng ở Quảng Bình mà còn được trong nam, ngoài bắc khen ngợi.

Cảnh Dương là một làng biển, người dân sống chủ yếu dựa vào biển, 70% người dân làm nghề biển. Vì vậy mà người dân ở đây luôn có tín ngưỡng tâm linh về cha ông lập làng, về sự tích cá voi bảo vệ cho những ngư dân trên biển.

Nói về cá voi ngư dân thì ai cũng biết rằng, cá voi thường dùng tấm thân rộng lớn của mình để nâng những con thuyền sắp đắm hoặc những người bị nạn vào bờ. Vì vậy mà cá voi đực được nhân dân ở đây gọi là cá Ông, cá voi cái được gọi là cá Bà. Cùng với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ khi lập làng đến nay người dân Cảnh Dương đã chứng kiến rất nhiều cá Ông, cá Bà trôi dạt vào bờ biển của làng. Người dân quan niệm đó là điềm lành nên tổ chức chôn cất và mai táng rất tử tế. Người dân quan niệm cứ mỗi lần cá voi bị chết, dạt vào vùng biển của làng đó là vì các “ngài” đã chọn Cảnh Dương làm nơi an nghỉ cuối cùng. Dân làng tin như vậy và họ đã hậu táng cho con cá rồi đưa vào nghĩa địa cá voi của làng (đến nay có tất cả 23 ngôi mộ cá voi).

Ngoài ra ở Cảnh Dương, tại Ngư Linh Miếu đang thờ hai bộ xương cá voi lớn nhất và niên đại lâu nhất Việt Nam (theo cá nhà khoa học về nghiên cứu), người dân Cảnh Dương xem đó là vật linh thiêng của làng.

Đến đây chúng ta cũng như đã trải nghiệm gần như hết văn hóa du lịch cộng đồng, tìm hiểu gần như trọn vẹn lịch sử văn hóa của một ngôi làng cổ ven biển. Hẹn các bạn đến những trải nghiệm thú vị khác ở kỳ sau, để tiếp tục khám phá về một Quảng Bình - Miền đất Danh nhân và Di sản.

Phạm Trung