Làng nghề cần bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường

2018-03-12 08:41:48 admin

DN&TH; Để thúc đẩy phát triển làng nghề bền vững, các chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện và triển khai đồng bộ các giải pháp cả về kinh tế, xã hội và môi trường.


Giá trị sản xuất của ngành nghề nông thôn tăng bình quân 15%/năm
Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 2790 làng nghề xét theo tiêu chí trên 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất thuộc 11 nhóm nghề chính như: Sơn mài, Gốm sứ, Thêu ren, Mây tre đan, Cói, Dệt, Giấy, Tranh dân gian, Gỗ, Đá trong cả nước.

Hiện nay, các sản phẩm làng nghề Việt Nam đã xuất khẩu đến được hầu hết các thị trường trên thế giới. Xét về giá trị, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn tăng bình quân từ 8,8 đến 9,8%/năm; giá trị sản xuất tăng bình quân 15%/năm. Nghề thủ công mỹ nghệ đã thu hút 1,5 triệu lao động và hiện mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,7 tỷ USD/năm.

Trong khi đó, xét góc độ xã hội, các làng nghề đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn, trong đó khoảng 30% là lao động làm việc thường xuyên còn lại là lao động làm thời vụ.

Điều tra 52 làng nghề do Bộ Tài nguyên Môi trường từng thực hiện cho kết quả, môi trường tự nhiên đang bị suy thoái trầm trọng ở các làng nghề. 24 làng ô nhiễm nặng, 14 làng ô nhiễm trung bình và 14 làng ô nhiễm nhẹ, chất lượng môi trường làng nghề không đạt chuẩn, người lao động phải tiếp xúc với bụi quá mức (95%); với nhiệt độ quá cao (85,9%) và với hóa chất độc hại (59,6%)...

Thúc đẩy làng nghề phát triển phải đồng bộ 3 nhóm giải pháp kinh tế, xã hội và môi trường

Những tiềm năng cũng như tồn tại của làng nghề nói trên đặt ra giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy làng nghề Việt Nam phải đồng bộ trên cả 3 nhóm giải pháp về kinh tế, xã hội và môi trường.

Theo các chuyên gia, trước hết về quan điểm là không đồng nhất chính sách phát triển ngành nghề nông thôn với chính sách phát triển làng nghề. Theo đó, chính sách phát triển làng nghề có đối tượng không chỉ là các ngành nghề hoạt động trong phạm vi của làng nghề mà còn cả các đối tượng là chủ thể trong làng nghề và chính bản thân làng nghề. Vì vậy, chính sách phát triển làng nghề rộng hơn và bao trùm nhiều lĩnh vực không chỉ kinh tế mà cả các vấn đề xã hội.

“Chính sách phát triển bền vững làng nghề: cần gắn với phát triển toàn diện công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ nông thôn theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phải tạo ra nền tảng pháp lý cơ bản cho “sân chơi” bình đẳng cho các tổ chức kinh tế không phân biệt thành phần cùng tham gia phát triển làng nghề; cần tập trung đào tạo nhân lực, nhân cấy nghề mới, phát triển thế mạnh, khôi phục các làng nghề, ngành nghề đã mai một đi đôi với yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường”. Các chuyên gia của Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương nhìn nhận.

Đặc biệt, cần chú ý đến hoàn thiện các chính sách kinh tế đối với phát triển làng nghề, bao gồm chính sách vùng nguyên liệu, đầu tư hạ tầng, tín dụng, thương mại và xúc tiến thương mại cũng như chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh cho làng nghề. Trong đó, quan trọng hàng đầu là phải có chính sách thống nhất cơ chế hỗ trợ nguồn lực cho làng nghề; lập kế hoạch thống nhất về đầu tư hạ tầng kinh tế như: giao thông, điện nước, thông tin liên lạc, hạ tầng thương mại các làng nghề, nhất là làng nghề có các sản lượng hàng hóa lớn, các làng nghề gắn với du lịch, văn hóa, lễ hội truyền thống...

Trong nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề bền vững về xã hội cần chú ý số một về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho làng nghề và có chính sách lao động việc làm, chính sách bảo tồn và phát triển làng nghề phù hợp.

Còn đối với nhóm giải pháp về môi trường, cần tăn cường các khuyến khích chuyển giao công nghệ từ làng nghề các nước vào làng nghề trong nước thông qua công cụ như thuế, tín dụng. Chính phủ cần chỉ đạo cơ quan chuyên môn, xem xét lại những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất ở làng nghề cần cải thiện điều kiện sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Đi liền với đó là các chính sách thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong làng nghề bảo vệ môi trường, theo hướng quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương có làng nghề, quy định cấp xã làm nòng cốt trong quản lý môi trường các làng nghề. Các làng nghề cần có cơ chế để tự hình thành, xây dựng hệ thống xử lý chất thải cho làng. Phương án tăng các loại phí, lệ phí tới việc gây ô nhiễm làng nghề cũng cần tính tới, bên cạnh giải pháp về tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm, đặc biệt là nâng cao kiến thức, ý thức của người dân trong làng nghề bảo vệ môi trường.

Sơn Thủy