PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VĂN HOÁ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2020-05-19 08:25:33 admin

DNTH: Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, chứa đựng nhiều giá trị nhân văn cao cả. Trong đó, tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân là một nội dung quan trọng, hàm chứa nhiều luận điểm có chiều sâu triết lý, có giá trị định hướng cải tạo thực tiễn, kể cả trong giai đoạn hiện nay, mai sau.


Về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, theo Hồ Chí Minh, đây là hai lĩnh vực có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại tạo nên một chỉnh thế thống nhất của xã hội loài người. Trong đó, kinh tế là nền tảng, là cơ sở hạ tầng, văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc về kiến trúc thượng tầng. Kinh tế quyết định sự phát triển của văn hóa và ở chiều cạnh ngược lại, văn hóa góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa là một trong những mối quan hệ rất cơ bản phản ánh trình độ và chất lượng của sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc. Theo Người, phát triển kinh tế nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại..., nghĩa là thoả mãn các nhu cầu của sự sinh tồn và phát triển của mỗi con người mà nếu thiếu các nhu cầu đó, con người không thể làm được những việc khác. Đây là vấn đề đầu tiên, trước hết được Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý, quan tâm giải quyết. Còn phát triển văn hoá là tạo cơ sở, nền tảng tinh thần cho sự tồn tại của đời sống con người nhằm thoả mãn những nhu của quá trình vận động lịch sử mang tính người ngày càng cao hơn.

Về mục đích phát triển kinh tế và văn hóa, trong Di Chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”[1]. Mục đích phát triển kinh tế và văn hóa mà Hồ Chí Minh đề cập phản ánh bản chất nhân đạo, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đối lập hoàn toàn với sự kìm hãm về kinh tế và nô dịch về văn hóa mà chế độ thực dân, phong kiến gieo rắc trên đất nước ta. Phát triển kinh tế và văn hoá nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, bao gồm mọi lứa tuổi, giai tầng xã hội, mọi người Việt Nam yêu nước, trước hết là công nhân, nông dân, trí thức... Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhiều chế độ xã hội khác nhau có thể làm cho một bộ phận nào đó của người Việt Nam trở nên giàu có, nhưng chỉ có duy nhất một chế độ xã hội làm cho mọi người Việt Nam trở nên giàu có, đó là chế độ xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này cũng là ham muốn tột bậc của Người: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[2]; cũng là mong muốn, khát vọng khôn nguôi nung nấu trong tâm khảm Hồ Chí Minh cho đến hơi thở cuối cùng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[3].

Bác Hồ với tư duy kinh tế hướng tới Việt Nam hùng cường

Chủ tịch Hồ Chí Minh thǎm Nhà máy diêm Thống Nhất năm 1956.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá bao hàm các vấn đề sau:

Thứ nhất; phải tập trung phát triển kinh tế, sản xuất, kinh doanh, tạo nền tảng vật chất vững chắc cho sự phát triển lâu dài, ổn định. Kinh tế có phát triển thì mọi việc khác mới giải quyết được: Việc làm gia tăng; thu nhập ổn định; an sinh xã hội được giải quyết triệt để, tận gốc...Hồ Chí Minh chú ý phát triển kinh tế đô thị và nông thôn, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển mạnh cả công công nghiệp và nông nghiệp. Người chỉ rõ: “Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp, hai chân không đều nhau, không thể lớn mạnh được”[4]. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn; coi đó như một chiến lược lâu dài, bảo đảm sự phát triển bền vững và ổn định. Quan điểm khoan thư nông dân ở Hồ Chí Minh không chỉ là vì nông dân mà chính là vì cơ sở xã hội chủ yếu, lực lượng xã hội, chỗ dựa đáng tin cậy của chế độ, của Đảng và Nhà nước ta. Chính sách mà Người đề nghị áp dụng đối với nông dân thấu tình, đạt lý, đặt nền móng cho quan niệm phát triển “tam nông” của Đảng ta trong thời hiện đại.

Thứ hai, phát triển toàn diện các mặt văn hóa. Xét về đặc trưng của lĩnh vực hoạt động tinh thần, văn hóa gồm có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa đời sống... Trong đó, Hồ Chí Minh chú trọng phát triển tinh thần yêu nước, văn hoá đạo đức và văn hoá giáo dục.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước là nấc thang giá trị cao nhất của dân tộc Việt Nam và của nền văn hóa Việt Nam. Kế tục phẩm chất bền vững đó của văn hóa dân tộc trong quá khứ, nền văn hóa mới phải tiếp tục phát triển với những đặc trưng mới. Theo Hồ Chí Minh, đặc trưng đó chính sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng độc lập dân tộc với lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. “Một dân tộc dốt, là một dân tộc yếu”[5]. Cho nên ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo giải quyết 3 nhiệm vụ cấp bách, trong đó nhiệm vụ cấp bách thứ 2 là “diệt giặc dốt” bằng phong trào “bình dân học vụ” trên phạm vi cả nước. Chỉ sau thời gian chưa đầy nửa năm, hơn 90% dân số Việt Nam từ mù chữ, đã cơ bản biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người căn dặn các em học sinh: “Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[6]. Đánh giá cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa giáo dục trong việc phổ biến tri thức, đào tạo kỹ năng sống và hình thành nhân cách, tư chất của mỗi con người, Hồ Chí Minh đồng thời cho rằng, văn hóa giáo dục là nền tảng của sự phát triển đất nước, giáo dục phải đi trước một bước. “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu”[7].

Người nói nhiều đến văn hoá đạo đức, nhất là văn hóa đạo đức của Đảng trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền, khi mà quyền lực có thể dễ trở nên tha hoá. Hồ Chí Minh mong muốn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[8]

Trong tư tưởng về nội dung phát triển văn hóa, Hồ Chí Minh yêu cầu phải đảm bảo tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Trong đó, đặc tính dân tộc của văn hóa thể hiện ở sự chuyển tải tâm hồn, diện mạo, đặc tính và cốt cách dân tộc. Đó là những giá trị bền vững và những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Những giá trị đó cần phải được gìn giữ và phát huy. Hồ Chí Minh nói giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc không đồng nghĩa với dân tộc hẹp hòi, đóng cửa, khép kín và cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu bắt chước, học đòi, lai căng để đánh mất đi cái độc đáo, cái đặc trưng của dân tộc mình. Phải biết kế thừa, phát huy có chọn lọc những truyền thống văn hóa tốt đẹp phù hợp với những điều kiện lịch sử mới, kiên quyết phê phán và loại bỏ những tập tục lạc hậu, cổ hủ, đủ bản lĩnh để mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tốt đẹp, tiến bộ của văn hóa nhân loại, tỉnh táo chống lại sự xâm nhập của mọi thứ văn hóa độc hại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam”[9].

Chính do tính chất, đặc trưng và chức năng đặc biệt trên của văn hóa, theo lời dạy và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải làm mọi cách để phát huy tối đa sức mạnh của văn hóa làm cho các nhân tố văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, trong mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương... và mọi quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội và với chính mình..., biến văn hóa thành một nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển.

Ngoài ra, chúng ta còn thấy rõ tầm nhìn viễn kiến của Hồ Chí Minh thông qua chỉ dẫn của Người về những điều kiện và giải pháp để phát triển kinh tế và văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo đó, cần phát huy vai trò lãnh của Đảng cầm quyền trong xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá; Đảng phải chủ động xây dựng kế hoạch, có trí tuệ, tầm nhìn xa và đủ bản lĩnh đưa ra các quyết sách chính xác và kịp thời. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo thành công của sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ phải huy động các nguồn lực của nhân dân để phát triển kinh tế và văn hoá. Bởi vì, xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá “là công việc rất to lớn, nặng nề và phức tạp mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”[10]. Phương châm phát triển kinh tế và văn hóa là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”[11].

Thấm nhuần những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, trên tinh thầnxác định con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; giải phóng con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng, những năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều quyết sách để phát triển kinh tế và văn hóa từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đánh giá về những thành tựu sau 30 năm đổi mới, Đảng ta khẳng định: “đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành …Văn hoá - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi”[12].

Bác Hồ với tư duy kinh tế hướng tới Việt Nam hùng cường

Bác Hồ với giới công thương năm 1946

Trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã rút một số bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”[13]. Đại hội tiếp tục nhấn mạnh việc gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế và văn hóa trong quá trình phát triển bền vững đất nước.

Đại hội XII đã  đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, phấn đấu hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; đảm bảo tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững...”[14]

Trong lĩnh vực phát triển văn hóa, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”[15]; cụ thể là “Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, giữ gìn chữ tín, cạnh tranh lành mạnh vì sự phát triển bền vững đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[16].

Một trong những nhận thức mới của Đảng mà theo tác giải chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa là chú ý chức năng kinh tế của văn hóa, coi trọng chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế. Đồng thời, xác định nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là xây dựng văn hóa trong kinh tế: “Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội”[17].

Thực hiện Nghị quyết Đại Hội lần thứ XII của Đảng, trong những năm qua, kinh tế và văn hóa có bước phát triển mạnh mẽ, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả tích cực; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng; văn hóa giáo dục đầu tư mạnh mẽ; chính sách dân tộc, tôn giáo được quan tâm và đảm bảo… Chính phủ Việt Nam đề ra Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2016 - 2020) với số vốn 41.449 tỷ đồng; đã giao cho Chương trình trong 2 năm 2016 - 2017 là 14.584 tỷ đồng. Ngoài ra, Nhà nước còn bố trí 44.214 tỷ đồng để thực hiện chính sách giảm nghèo thường xuyên, hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng… Đến nay, 70% người dân Việt Nam đã được đảm bảo về mặt kinh tế; trong đó, có 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới… góp phần từng bước đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai.

Đặc biệt, những tháng đầu năm 2020 để chăm lo đời sống nhân dân trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hiện nay, Đảng, Chính phủ đã quyết định thực hiện gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng dành cho đối tượng người nghèo, đảm bảo các hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội là những người có thu nhập thấp mức sống tối thiểu trong vòng trong 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020. Ngoài ra, để cùng Đảng, Nhà nước tập trung phòng chống dịch, có thêm nguồn lực để tăng cường các biện pháp phòng, chữa bệnh, bảo đảm an sinh xã hội, an toàn đời sống và sức khỏe của nhân dân, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước, đồng bào ta ở nước ngoài với tình cảm sâu sắc và trách nhiệm của mình tích cực tham gia ủng hộ phòng chống dịch Covid-19. Tính đến 20/4/2020, số tiền và hiện vật nhân dân ủng hộ là gần 1.700 tỷ đồng. Qua đó không những đảm bảo được cuộc sống của người dân để họ khắc phục được khó khăn mà còn là chính sách nhân văn thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội.

Bac-Ho

Tuy nhiên, hiện nay sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa nước ta còn gặp nhiều khó khăn thách thức, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; đời sống của nhân dân ta vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, bất ổn do sự phát triển không đồng bộ giữa kinh tế và văn hóa. Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội chậm được xử lý như tình trạng tham nhũng, quan liêu của một bộ phận cán bộ, công chức, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng; những hạn chế của y tế, giáo dục đã được chỉ ra nhưng chậm được xử lý, khắc phục; sự xuống cấp của đạo đức xã hội… Những vấn đề đó đã đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa, chăm lo đời sống nhân dân. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta cần thực hiện ngay những giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất:Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về "Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ". Cần coi đây là khâu then chốt bởi theo Hồ Chí Minh muôn việc thành công hay thất bại là do cán bộ. Phát triển kinh tế và văn hóa, chăm lo đời sống nhân dân không nằm ngoài qui luật đó.

Thứ hai: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt phải tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải: “Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân”; về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”; về quan hệ với nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân”.

Ba là, gắn thực hiện nội dung phát triển kinh tế và văn hóa, chăm lo đời sống nhân dân với việc tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm, cấp bách tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2020, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Có thể khẳng định, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Những chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết mối quan hệ này trong hoạt động thực tiễn đã góp phần bảo đảm giữ vững định hướng chính trị, đề cao tính văn hóa của nền kinh tế, xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

TS. Đinh Quang Thành

Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

 


[1]Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011. tập 15, trang 612.

[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd,t.4, tr.187

[3]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd,t.15, tr.614

[4]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd,t.12, tr.162

[5]Hồ Chí Minh: toàn tập, sđd. t.4, tr.7

[6]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd,t.4, tr.35

[7]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd, t.10, tr.345

[8] Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd, t.15, tr.611

 

[9]Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá văn nghệ, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.71.

[10]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd, t.15, tr.617

[11]Hồ Chí Minh, toàn tập, sđd, t.5, tr.81

[12]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.65-66.

[13]Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.69.

[14]Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.104.

[15]Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.127.

[16]Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.128.

[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr. 53.