Quảng Bình - Miền đất Danh nhân và Di sản

2018-11-03 09:32:05 admin

DN&TH; Quảng Bình là thế, rất mộc, rất đời, rất thú vị nhưng rất tiếc là quá ít người hiểu được giá trị vô hình này để khai thác và cảm nhận.


Khi nhắc đến du lịch ở vùng đất Quảng Bình, chúng ta không thể nào diễn tã hay nói hết được những gì mà vùng đất này đang sở hữu chỉ qua một vài câu chuyện và dù bạn có muốn khám phá hết được tiềm năng du lịch nơi đây thì không chỉ là một hai ngày là xong mà đi mãi vẫn không thể hết. Bởi tạo hóa thiên nhiên ban tặng cho vùng đất đất này như níu lấy đôi chân, giữ lấy tâm hồn của những con người yêu du lịch, thích khám phá và yêu vẻ đẹp của cảnh quan, đi cùng đó là những di tích của một thời hào hùng của thế hệ cha ông đi trước để lại với một trang dài lịch sử. Sang kỳ này chúng tôi lại tiếp tục dẫn các bạn cùng hành trình với chúng tôi đến với những cảnh quan và di tích gắn liền với con đường Hồ Chí Minh huyền thoại của Việt Nam chúng ta nói chung và vùng đất phía Tây bắc Quảng Bình nói riêng.

Kỳ V: Vùng sơn cước “Minh Hóa” bản sắc nguồn cội, sự tích núi rừng.

Để đến được đây chúng ta phải vượt qua khoảng 80km, bắt đầu từ TP.Đồng Hới để đến với vùng đất con nguyên sơ đầy tiềm năng chưa được khai thác hết. Đó là vùng đất Minh Hóa, khi nói đến Minh Hóa, chúng ta không thể nhắc đến các làn điệu dân ca truyền thống, đậm chất nhân văn đã từng làm say lòng người như: hò thuốc cá, hò hôi lên, hát sắc bùa, ca trù…. Kể cả ngôn ngữ tiếng Nguồn cũng đang được xem như là “đặc sản” văn hóa mà chỉ có ở Minh Hóa mới có. Minh Hóa còn được biết đến là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng, có văn hóa riêng hết sức bí ẩn, có sức lôi cuốn du khách. Ẩm thực ở Minh Hóa cũng có rất nhiều món ngon như: bồi, ốc đực, cá mát, mật ong rừng, rượu đoác, rau tớn…Với những tiềm năng lớn như vậy, tuy nhiên việc đầu tư và khai thác du lịch ở Minh Hóa vẫn còn rất nhiều hạn chế. Nhiều tiềm năng du lịch ở đây vẫn còn như “ngủ yên”.

Trên tuyến đường Hồ Chí Minh và đường 12A qua địa bàn huyện Minh Hóa có hàng chục di tích lịch sử cấp Quốc gia và các di tích liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc như: đèo Đá Đẽo ở xã Thượng Hóa, ngầm Khe Rinh, hang Sân khấu ở xã Trung Hóa, nhà bia tưởng niệm liệt sỹ Thanh niên xung phong C892 Thái Bình ở xã Hóa Hợp.

Tại xã Hóa Tiến có cụm hang động từng là nơi đóng quân của Binh trạm 12, hang Bệnh viện, hang chứa xăng dầu, đạn dược… Xã Hóa Thanh có ngã ba Khe Ve từng là nơi đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ. Trên đường 12A qua xã Dân Hóa có 5 di tích lịch sử Quốc gia gồm: Nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ tại đồi Cha Quang, tượng đài chiến thắng Bãi Dinh, Cổng Trời, trận địa Nguyễn Viết Xuân và tượng đài chiến thắng Cha Lo.

Ngoài ra, Minh Hóa còn có lễ hội Rằm tháng 3 truyền thống. Đó là một trong hai lễ hội lớn cấp tỉnh được tổ chức hàng năm vào ngày 15/3 Âm lịch. Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu của cộng đồng người Nguồn ở Minh Hóa, các dân tộc anh em trên địa bàn và khách du lịch các nơi. Đến đây chúng ta được chiêm ngưỡng những giá trị văn hóa của các lễ hội, làng nghề truyền thống đặc trưng văn hóa dân tộc Rục và các dân tộc ít người khác mang đậm bản sắc riêng của huyện Minh Hóa.

Khi đến với Minh Hóa chúng ta như được đến với một vùng đất hoang sơ, đầy tiềm năng. Ngoài ra, khi ở đây cho chúng ta cảm nhận như đang về với nguồn cội. Không khí trong lành của vùng cao Minh Hóa có nét tương đồng như Đà Lạt (qua sự ví von của thực khách khi tới đây), cùng với đó qua con mắt của các nhà khảo sát còn ví Minh Hóa như một Vịnh Hạ Long trên cạn, bởi hệ thống núi đá vôi đồ sộ, có nhiều cảnh đẹp. Ở đây có những hang động rất đẹp với hệ thống thạch nhũ, dòng sông ngầm như: Hệ thống hang động Tú Làn (Tổng chiều dài của hệ thống Hang Tú Làn là gần 20km, bao gồm 20 hang động lớn nhỏ, động khô, động nước cùng nhiều dạng địa hình  khác nhau. Trong đó, để thám hiểm được một số hang, du khách phải bơi trong sông ngầm bao quanh là các khối thạch nhũ độc đáo, đặc biệt là các động khô.

Trong khi Hang Bí Mật là hang động nhỏ  bao phủ bởi các hình dạng thạch nhũ, Hang Sơng Oxalis lại là một cung điện nguy nga với những khối thạch nhũ san hô quý hiếm. Các lớp đá vôi rất mỏng tạo nên vô số hoa văn ấn tượng trên khắp khoảng tường và trần hang. Hang Tiên là hang khô lớn nhất hệ thống Tú Làn và có một hệ thống đu dây mạo hiểm “Flying Fox” sử dụng đai bảo hộ và dây cáp bằng thép ngay trong hang.

Tất các các khu cắm trại đều nằm trong các thung lũng đẹp nhất của hệ thống Tú Làn, bên

cạnh dòng sông trong xanh hoặc hồ nước tự nhiên tuyệt đẹp, lý tưởng cho du khách thỏa thích bơi lội và thưởng thức bức tranh thiên nhiên của núi rừng.

Khu vực Tú Làn được chọn là một trong các bối cảnh của  phim bom tấn Kong: Skull Island (2017) của Hollywood, và gần đây nhất là bộ phim Việt “Người Bất Tử” (2018), dự kiến ra mắt mùa thu 2018) ở xã Tân Hóa, Hóa Tiến, Quy Đạt; hệ thống hang Rục Ngầm ở xã Trung Hóa, Thượng Hóa, Hóa Phúc… Hệ thống núi đá vôi cùng với địa hình rừng núi đã tạo nên những khe suối có dòng chảy rất đẹp, nước rất trong và mát như: Thác Mơ ở xã Hóa Hợp; thác Bụt, suối nước Mộc ở xã Yên Hóa.

Qua những gì chúng tôi nói đến ở trên, chúng tôi xin kể những sự tích gắn bó với địa danh mà vùng đất này lưu giữ đi cùng năm tháng.

Chuyện tình “nàng Yleng và chàng Thông Ma”.

Gắn với khu di tích lịch sử Cổng Trời – Cha Lo thuộc khu vực xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa. Đây là điểm di tích lịch sử - văn hóa nằm trong hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh (tuyến đường 12A).

Cổng trời Cha Lo được hình thành từ hai tảng đá tự nhiên. Chuyện kể rằng, có đôi trai gái là Y Leng và Thông Ma yêu nhau, người con gái bị thuồng luồng bắt vào hang núi ở trong rừng sâu. Chàng trai vì muốn cứu người yêu đã gánh đá về lấp cửa hang, tiêu diệt quái vật. Trong cuộc giao tranh kịch liệt ấy có hai hòn đá rơi xuống, tạo thành một cửa vòm tự nhiên, người dân trong làng gọi đó là cổng trời Cha Lo. Với người bản địa, truyền thuyết là thế nhưng đối với lịch sử thì Cha Lo lại là một khúc ca bi tráng về một thời xẻ núi, lấp rừng làm đường của quân và dân giải phóng miền Nam.

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, vùng đất này thuộc huyện Minh Hoá nằm trong huyện Tuyên Hoá cũ gồm 2 nguồn Cơ Sa và Kim Linh.

Cha Lo được mệnh danh là huyền thoại cổng trời trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bởi lẽ đây là một trong những huyệt điểm quan trọng của tuyến đường mòn Trường Sơn. Những năm 1960, Quảng Bình là một trong những vùng bị đánh phá nhiều nhất. Hàng vạn tấn bom đạn và các loại chất độc đã trút xuống nơi đây nhằm cắt con đường vận chuyển lương thực, đạn dược của Miền Bắc chi viện cho chiến trường Miền Nam. Có những lúc, thành phố Đồng Hới dường như bị san phẳng, còn rừng Quảng Bình thì trở thành một vùng đất trắng. Cổng trời là một trong những điểm bị đánh phá nhiều nhất. Nhưng với sự kiên trì, quyết tâm bám đất, bám núi, bộ đội và những thanh niên xung phong của tiểu đoàn 14 đã vận chuyển hàng nghìn tấn hàng hóa an toàn đến điểm tập kết. Đến với di tích lịch sử ấy, dường như bóng dáng của những dãy núi còng mình che chở cho bộ đội vẫn còn đó, những dòng chữ khẩu hiệu trên vách núi như một lời khẳng định cho sự kiên định, dũng cảm của những người mở đường và giữ đường. Hãy đến với Cổng trời để một lần sống trong những ngày tháng hào hùng của lịch sử, trong thời khắc huy hoàng của tình yêu bất tử ở Cha Lo - Cổng Trời.

Sự tích Thác Bụt – Giếng Tiên & Lễ hội rằm tháng 3 (âm lịch).

Theo nhưng bậc cao niên ở huyện Minh Hóa kể lại, ngày xưa có 2 anh em nhà nông ở làng Yên Đức, xã Yên Hóa đi tìm mật ong trên lèn Ông Ngoi. Lên đến đỉnh họ gặp một giếng nước trong vắt, cạnh giếng có một cây quýt trĩu quả. Dưới bóng cây râm mát có 12 hòn đá giống hình ông Bụt, bên cạnh có bàn đá bằng phẳng như bàn cờ tướng và trên đó có những quân cờ cũng bằng đá.

Hai anh em nghỉ ngơi, ăn quýt và ngắm nhìn những tượng đá. Thấy lạ, người anh dùng dây rừng buộc lấy một hòn đá và mang xuống núi. Đến thác Cún, họ dừng chân để tắm rửa. Nhưng lạ thay, khi tắm xong người anh đến nhấc tượng đá lên để mang về thì không sao nhấc nổi.

Bực mình vì tiếc công mang, anh ta liền dùng rựa ghè sứt môi tượng đá. Sau đó, hậu quả là dòng họ này trong nhiều đời liên tục đều có một người bị sứt môi. Khi tượng đá xuất hiện ở thác Cún chưa được bao lâu thì làng Yên Đức sinh ra nhiều dịch bệnh, chim muông, thú dữ về phá hoại mùa màng và bắt gia súc, gia cầm.

Thấy vậy, dân làng đã lập đàn khấn vái thì một người ứng đồng tự xưng là Bụt hiện đang ở thác và đòi lập đàn thờ. Nghe vậy, dân làng làm theo và tự nhiên dịch bệnh tiêu tan, mùa màng tươi tốt, nhà nhà trở lại yên ấm.

Từ đó, tại đàn thờ ở thác Cún hàng ngày có rất nhiều người đến cầu nguyện. Ở chỗ đặt tượng đá, dân làng dọn sạch cây bụi, làm một cái sàn nhỏ bằng gỗ bện dây rừng để đặt lễ vật khi cầu cúng. Lễ vật tùy tâm, có thể chỉ là miếng trầu, lá thuốc, xôi oản...nhưng phải thật tinh sạch.

Tiếng đồn về sự linh thiêng của Bụt và sự đắc nghiệm sau khi cầu khấn đã lan ra các huyện, các tỉnh lân cận đã thu hút người khắp nơi kéo về nườm nượp. Thác Cún trở nên chật chội và bất tiện cho việc cầu cúng nên dân làng Yên Đức đã góp tiền, góp gạo thuê dựng chùa Tú Vàng ở phía nam dốc Cảng cho gần làng hơn để tiện việc tế lễ. Có chùa nhưng không có sư mà chỉ có các ông sãi, ông từ coi giữ, quét dọn và làm lễ cầu cúng cho mọi người.

Lúc đầu, lễ cầu cúng được thực hiện liên tục hàng ngày, sau đó để thuận lợi hơn cho mọi người, dân làng đặt ra lệ chỉ làm lễ cầu nguyện chung mỗi năm một lần vào ngày rằm tháng ba cho đến bây giờ. Trải qua bao biến cố thiên thăng trầm của lịch sử, lễ hội rằm tháng ba cùng với các làn điệu dân ca như: Điệu hò thuốc, điệu đúm ví và điệu ru con đã trở thành nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Minh Hóa. Không chỉ riêng người dân Minh Hóa mà người dân các huyện lân cận, thành phố Đồng Hới hay các tỉnh khác cũng về đây dự hội rằm tháng 3. Mọi người cứ truyền tai nhau câu “Thà đau thà ốm mà nằm, chứ ai nỡ bỏ chợ rằm tháng ba”

Phạm Trung