Vấn đề đại đoàn kết dân tộc thời kỳ Hội nhập dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

2019-11-18 20:33:41 admin

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công", 14 chữ vàng trên, được ghi trong sổ vàng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trở thành mục tiêu và phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thời đại ngày nay tư tưởng đại đoàn kết của Người luôn tỏa sáng.


Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. Đại đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam.

Ảnh minh họa - Nguồn:internet

Tuyên truyền sâu rộng quan điểm đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển, với những thời cơ và thách thức đan xen nhau, đang thường xuyên có tác động đến khối đại đoàn kết dân tộc, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải nắm vững và phát huy sáng tạo những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Bởi vì, lịch sử cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua đã chứng minh, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được quán triệt và thực hiện đúng thì cách mạng phát triển mạnh mẽ và giành được thắng lợi; lúc nào xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng gặp nhiều khó khăn và bị tổn thất. 

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng, là vấn đề sống còn của cách mạng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết luôn luôn là chiến lược của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta"; "Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là then chốt của thành công". Do đó, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng, phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. 

Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, bao gồm các dân tộc, các giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, đồng bào ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài, là "mọi con dân nước Việt", "mỗi một người con rồng cháu tiên" "không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, chủng tộc, cùng nhau đoàn kết để giữ vững nền độc lập và mưu cầu hạnh phúc tự do".

Đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, ở những lời kêu gọi mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta, phải được tập hợp trong một tổ chức, đó là Mặt trận dân tộc thống nhất. 
Ngày nay, mục tiêu của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước là để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khắc phục những tụt hậu về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới, để "xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh", xây dựng một "xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", để đất nước ta có thể "sánh vai với các cường quốc ở năm châu" như Bác Hồ hằng mong muốn.

Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện Hội nhập.

Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế. Từ đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế. Đại đoàn kết dân tộc là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Đại đoàn kết dân tộc nhằm khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước, không bỏ lỡ thời cơ, vận hội, phải cố gắng tiến kịp sự chuyển động theo gia tốc của thế giới đang ngày càng phát triển; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đẩy lùi mọi nguy cơ, vượt qua mọi thách thức.

Đại đoàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh, quyết định, là cơ sở vững chắc cho hội nhập. Đại đoàn kết dân tộc để nhằm tạo lực và thế để vươn ra nước ngoài. Ngược lại mở cửa, hội nhập quốc tế nhằm làm cho thế và lực ở trong nước ngày càng tăng thêm. Nhưng có đại đoàn kết dân tộc vững chắc mới có đủ sức mạnh, bản lĩnh và lòng tự tin để hội nhập một cách bình đẳng, không bị đồng hóa, hòa tan. Trong bối cảnh quốc tế mới đầy phức tạp hiện nay, có nhiều nhân tố tác động đến tinh thần đại đoàn kết dân tộc như nền kinh thế thị trường đã dẫn đến những thay đổi trong xã hội, tạo ra sự chênh lệch ngay càng nhiều giữa giàu và nghèo. Kinh tế thị trường cũng tạo ra tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh, làm phai nhạt truyền thống tương thân, tương ái trong cộng đồng dân tộc. 

Kinh tế thị trường cũng đẻ ra nhiều tệ nạn xã hội: Tham ô, tham nhũng, quan liêu, cửa quyền vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, khiến lòng dân không yên... Nếu không khắc phục sẽ có nguy cơ đe dọa khối đại đoàn kết dân tộc. Vấn đề đoàn kết giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; vấn đề tôn giáo cũng đang là những vấn đề thời sự nóng hổi cần phải được giải quyết một cách êm đẹp trong nội bộ. Có giải quyết tốt các vấn đề về củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thì chúng ta mới có sự đồng lòng nhất trí để đoàn kết, hợp tác với các nước trên thế giới nhằm xóa dần sự cách biệt về sự phát triển về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật.

Đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ hội nhập cần chú trọng đến phạm vi, đối tượng, chính sách, phương pháp tập hợp. Trong đó cần lưu ý những đối tượng như trí thức, thanh niên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trí thức là những người có thể giúp cho Việt Nam hội nhập thành công. Vì họ là những người có năng lực trí tuệ, nắm bắt được tri thức, khoa học, giúp cho chúng ta trong việc hợp tác, tiếp thu công nghệ, trong việc ký kết, tư vấn về pháp luật... . Với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cần có chính sách hết sức linh hoạt để thu hút sự quan tâm của gần 5 triệu kiều bào đóng góp cho sự phát triển đất nước. Thu hút không chỉ nhằm để đồng bào chuyển về nhiều kiều hối, để vận động đóng góp hay đầu tư về quê hương, mà quan trọng là đồng cảm với kiều bào, thông qua sự hiển diện của kiều bào ở các nước để thế giới hiểu và thông cảm với Việt Nam, từ đó họ tích cực ủng hộ Việt Nam trên mọi phương diện. 

Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, khi mà đối tượng, đối tác hợp tác của đất nước ta đã mở rộng rất nhiều, thì việc vận dụng sáng tạo và phát huy tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong quá trình hợp tác, hội nhập phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, không vì lợi ích trước mắt, hay lợi ích kinh tế mà bỏ qua lợi ích lâu dài của quốc gia, dân tộc; phải đảm bảo độc lập chủ quyền, không xâm phạm về lãnh thổ, kinh tế, chính trị, nội trị của nhau.

Những tư tưởng, định hướng về đoàn kết, hợp tác hữu nghị trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quán triệt trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ mở cửa, hội nhập. Những nguyên tắc, bài học về đoàn kết, hợp tác quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược."; "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"; "Nói nên nhu, làm nên cương", luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển mãi mãi là cẩm nang trong việc thực thi chính sách đoàn kết, hợp tác của Đảng và Nhà nước ta.

Bài học Đại đoàn kết luôn là bài học sâu sắc nhất của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử từ dựng nước, đến giữ nước. Đại đoàn kết càng quan trọng hơn trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay để một Việt Nam hùng cường, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc Việt, "hội nhập chứ không hòa tan".

Theo Trần Hoàn/VNHN

https://vietnamhoinhap.vn/article/van-de-dai-doan-ket-dan-toc-thoi-ky-hoi-nhap-duoi-anh-sang-tu-tuong-ho-chi-minh---n-24175