Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

11:17 | 12/10/2026

DNTH: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, có vai trò quan trọng đối với tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội, phát triển thị trường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Những năm gần đây, khuôn khổ pháp luật và chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa thiết kế chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp vẫn đáng kể; các điểm nghẽn về tín dụng, đất đai, thủ tục hỗ trợ, phối hợp liên cơ quan, dữ liệu và cơ chế giám sát làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước.

Trên cơ sở phân tích chính sách và tổng hợp số liệu thứ cấp từ cơ quan thống kê, Báo cáo PCI, OECD và các văn bản pháp luật hiện hành, bài viết đánh giá những kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về kinh tế đối với phát triển DNNVV. Từ đó, bài viết đề xuất chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát thủ tục và số lượng hoạt động hỗ trợ sang kiến tạo môi trường kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận chính sách và đo lường kết quả phát triển thực chất của doanh nghiệp; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, liên thông dữ liệu, đổi mới công cụ tài chính, phân loại hỗ trợ theo nhu cầu và tăng trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

Ảnh minh họa (internet)

Đặt vấn đề

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận đông đảo nhất trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và có ý nghĩa đặc biệt đối với tính năng động của nền kinh tế. Với quy mô vốn và lao động không lớn, DNNVV có khả năng hình thành nhanh, thích ứng tương đối linh hoạt với biến động của thị trường, tạo việc làm tại chỗ và mở rộng cơ hội kinh doanh cho nhiều nhóm dân cư. Khu vực này đồng thời là mắt xích quan trọng trong mạng lưới cung ứng, dịch vụ hỗ trợ và quá trình hình thành năng lực sản xuất nội địa. Theo OECD (2021), các doanh nghiệp có từ 1 đến 249 lao động ở Việt Nam sử dụng khoảng 47% lực lượng lao động và tạo ra khoảng 36% giá trị gia tăng; những tỷ lệ này cho thấy đóng góp đáng kể của khu vực doanh nghiệp quy mô nhỏ, đồng thời phản ánh dư địa lớn để cải thiện năng suất và khả năng tạo giá trị.

Bức tranh doanh nghiệp gần đây cho thấy hai xu hướng diễn ra đồng thời. Năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 1.919,2 nghìn tỷ đồng và hơn 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt gần 297,5 nghìn doanh nghiệp. Tuy nhiên, cùng năm có 227,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Sự gia tăng số doanh nghiệp thành lập mới vì vậy chưa đủ để khẳng định chất lượng phát triển của khu vực doanh nghiệp. Vấn đề quan trọng hơn là khả năng tồn tại, tích lũy, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và mở rộng quy mô của doanh nghiệp sau khi gia nhập thị trường.

Từ góc độ quản lý nhà nước về kinh tế là hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh, kiểm soát và thúc đẩy các hoạt động kinh tế trong phạm vi quốc gia. Mục tiêu của quản lý nhà nước về kinh tế là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, duy trì sự ổn định kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững. Quản lý này bao gồm việc ban hành chính sách, pháp luật và thực thi các biện pháp hành chính, tài chính để điều tiết hoạt động kinh tế.

Ta xem xét sự phát triển của DNNVV phụ thuộc không chỉ vào năng lực nội tại của doanh nghiệp mà còn vào chất lượng thể chế, khả năng tiếp cận các nguồn lực và hiệu quả tổ chức thực thi chính sách. Nhà nước có trách nhiệm thiết lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, xử lý những thất bại thị trường và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, đất đai, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và thị trường. Tuy nhiên, hỗ trợ của Nhà nước chỉ tạo ra giá trị khi doanh nghiệp có thể tiếp cận với chi phí hợp lý và khi nguồn lực công tạo ra những thay đổi có thể quan sát được về năng lực và kết quả kinh doanh.

Việt Nam đã hình thành một khuôn khổ chính sách tương đối toàn diện cho DNNVV. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP tạo nền tảng pháp lý cho các chính sách hỗ trợ về công nghệ, tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, khởi nghiệp sáng tạo và tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Từ năm 2025, định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân được bổ sung bởi Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15. Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định một số cơ chế đặc biệt liên quan đến đất đai, thuế, đào tạo và mua sắm công dành cho khu vực tư nhân, trong đó có DNNVV. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về đăng ký doanh nghiệp và khai thác, chia sẻ thông tin doanh nghiệp. Đầu năm 2026, Quyết định số 84/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho DNNVV và hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030, nhấn mạnh yêu cầu lấy đối tượng thụ hưởng làm trung tâm.

Mặc dù số lượng chính sách và công cụ hỗ trợ ngày càng phong phú, hiệu quả quản lý nhà nước không thể được đánh giá chủ yếu bằng số văn bản được ban hành, số chương trình được tổ chức hoặc số kinh phí đã giải ngân. Khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế vẫn thể hiện qua những khó khăn về tín dụng, mặt bằng, thủ tục, chi phí tuân thủ và thông tin. Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm đánh giá từ “Nhà nước đã hỗ trợ những gì” sang “doanh nghiệp tiếp cận được gì và kết quả phát triển thay đổi như thế nào.  Cách tiếp cận tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế trong phát triển DNNVV, nhận diện các điểm nghẽn chủ yếu trong tổ chức thực thi và đề xuất các giải pháp theo hướng nâng cao khả năng tiếp cận chính sách, chất lượng dịch vụ công và kết quả phát triển thực chất của doanh nghiệp.

Công tác quản lý nhà nước về kinh tế trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, quản lý nhà nước đối với DNNVV đã có chuyển biến đáng kể cả về khuôn khổ pháp lý, phương thức cung cấp dịch vụ công và phạm vi chính sách hỗ trợ. Trước hết, việc ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 và các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở pháp lý tương đối thống nhất thay cho tình trạng các chương trình hỗ trợ phân tán theo từng giai đoạn. Nghị định số 80/2021/NĐ-CP cụ thể hóa tiêu chí xác định DNNVV và nhiều nội dung hỗ trợ về công nghệ, tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, khởi nghiệp sáng tạo và tham gia chuỗi giá trị. Các chính sách gần đây tiếp tục mở rộng trọng tâm từ hỗ trợ gia nhập thị trường sang hỗ trợ năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và liên kết sản xuất.

Về tư duy quản lý cũng đang chuyển dần từ quản lý thuần túy dựa trên tuân thủ sang kết hợp giữa quản lý và kiến tạo phát triển. Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 và Nghị quyết số 198/2025/QH15 thể hiện rõ hơn yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực và tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đối với DNNVV, Nghị quyết số 198/2025/QH15 bổ sung những công cụ có tác động trực tiếp như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đối với DNNVV kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; dành một phần diện tích tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực tư nhân, DNNVV và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời dành một số gói thầu sử dụng ngân sách nhà nước cho DNNVV theo điều kiện luật định. Những chính sách này cho thấy định hướng hỗ trợ đã gắn nhiều hơn với chi phí kinh doanh, khả năng tiếp cận mặt bằng và cơ hội thị trường.

Cải cách thủ tục và số hóa dịch vụ công là một kết quả đáng ghi nhận khác. Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định về hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp, đăng ký qua mạng, cung cấp và chia sẻ thông tin doanh nghiệp, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục số hóa hoạt động đăng ký và quản lý thông tin. Kết quả PCI 2024 cho thấy 79% doanh nghiệp thực hiện thủ tục trực tuyến nhận thấy tiết kiệm thời gian và 78% nhận thấy giảm chi phí. Điều này cho thấy số hóa có thể tạo ra lợi ích kinh tế trực tiếp nếu thủ tục được tái thiết kế đồng bộ, thay vì chỉ chuyển hồ sơ giấy sang môi trường điện tử.

Tiếp cận tài chính tiếp tục là một trong những điểm nghẽn rõ nhất. Dữ liệu được Báo cáo PCI 2025 tổng hợp từ Khảo sát doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới cho thấy 21,2% doanh nghiệp tại Việt Nam coi tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất; 93,5% khoản vay yêu cầu tài sản thế chấp, cao hơn mức bình quân 66,9% của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương trong cùng bộ dữ liệu. Đối với doanh nghiệp nhỏ, phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm làm giảm khả năng tiếp cận vốn của những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu đất đai, nhà xưởng hoặc tài sản hữu hình có giá trị. Các quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV đã được hình thành nhằm khắc phục khoảng trống này, nhưng OECD (2021) lưu ý mức độ tham gia của doanh nghiệp và các ngân hàng đối tác đối với một số công cụ tài chính còn hạn chế.

Khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng hoạt động còn nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh. Đối với DNNVV, chi phí thuê đất và nhà xưởng cao không chỉ làm tăng chi phí cố định mà còn hạn chế khả năng đầu tư máy móc, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và mở rộng công suất. Việc Nghị quyết số 198/2025/QH15 bổ sung cơ chế dành diện tích đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho một số nhóm doanh nghiệp cho thấy vấn đề này đã được nhận diện ở cấp chính sách; thách thức tiếp theo nằm ở tiêu chí phân bổ, tính minh bạch và hiệu quả thực thi tại địa phương.

Một hạn chế đáng chú ý khác là khả năng tiếp cận chính sách chưa tương xứng với số lượng chương trình hỗ trợ. Đối với doanh nghiệp nhỏ, chi phí tìm kiếm thông tin, chuẩn bị hồ sơ, chứng minh điều kiện và theo dõi quá trình xử lý có thể chiếm tỷ trọng đáng kể so với giá trị hỗ trợ nhận được. Khi doanh nghiệp không có bộ phận pháp chế, kế toán hoặc nhân sự chuyên trách về dự án, một chính sách được thiết kế với quy trình phức tạp có thể vô tình loại chính nhóm doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất. Vì vậy, hiệu quả chính sách phải bao gồm cả chỉ tiêu về mức độ nhận biết, tỷ lệ đủ điều kiện, tỷ lệ nộp hồ sơ thành công và thời gian thực tế để được nhận hỗ trợ. Ngoài ra, chi phí không chính thức và sự khác biệt trong chất lượng thực thi giữa các địa phương tiếp tục làm giảm tính bình đẳng của môi trường kinh doanh đối với các DNNVV.

Về tổ chức quản lý, chính sách hỗ trợ DNNVV liên quan đồng thời đến tài chính, tín dụng, khoa học và công nghệ, công thương, tư pháp, lao động, đất đai và chính quyền địa phương. Tính liên ngành là tất yếu nhưng cũng tạo ra nguy cơ phân tán trách nhiệm. OECD (2021) nhận định cơ chế quản trị chính sách DNNVV tại Việt Nam cần được tăng cường về điều phối, giám sát và đánh giá. Trong thực tế, nhiều cơ quan có thể cùng tham gia triển khai một chương trình nhưng chưa có một đầu mối đủ mạnh chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng đối với doanh nghiệp. Khi mục tiêu không đạt, việc xác định trách nhiệm giữa cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan phân bổ ngân sách, đơn vị tổ chức thực hiện và nhà cung cấp dịch vụ còn khó khăn.

Sự phân tán còn thể hiện ở dữ liệu quản lý. Thông tin về đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội, lao động, tín dụng, khoa học – công nghệ và lịch sử tham gia các chương trình hỗ trợ được quản lý tại nhiều hệ thống. Khi dữ liệu chưa liên thông đầy đủ, doanh nghiệp phải khai báo lại những thông tin Nhà nước đã có, trong khi cơ quan quản lý khó xây dựng hồ sơ phát triển của doanh nghiệp và đánh giá tác động sau hỗ trợ. Việc Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định về khai thác và chia sẻ thông tin doanh nghiệp là một bước tiến về cơ sở pháp lý, nhưng giá trị quản lý chỉ được phát huy khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và sử dụng trong quá trình ra quyết định.

Một vấn đề có tính cấu trúc là chính sách chưa phản ánh đầy đủ tính không đồng nhất của DNNVV, doanh nghiệp siêu nhỏ trong thương mại, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có nhu cầu rất khác nhau. Báo cáo PCI 2025 cho thấy các  doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng  rào cản tài chính ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp; khi quy mô vốn tăng, trở ngại tài chính giảm dần trong khi thiếu nhân lực chuyên môn và thông tin cũng là khó khăn lớn của DNNVV.

Hạn chế của các chương trình hỗ trợ đối với hiệu quả quản lý, là cơ chế theo dõi và đánh giá còn thiên về đầu vào và số lượng hoạt động. Các báo cáo triển khai thường dễ đo số lớp đào tạo, số lượt tư vấn, số hồ sơ hoặc số kinh phí giải ngân hơn là đo sự thay đổi về năng suất, doanh thu, việc làm, công nghệ và khả năng tham gia thị trường. Cách đánh giá này tạo ra nguy cơ đồng nhất “hoàn thành kế hoạch” với “chính sách có hiệu quả”. Một chương trình hỗ trợ chỉ thực sự có ý nghĩa khi có thể chứng minh rằng doanh nghiệp sau hỗ trợ cải thiện năng lực hoặc kết quả phát triển so với trước.

Những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như : Tư duy kiến tạo và phục vụ chưa chuyển hóa đồng đều thành quy trình thực thi ở tất cả cơ quan và địa phương; cơ chế phối hợp còn phân tán; năng lực công chức, ngân sách và mạng lưới tư vấn giữa các địa phương không đồng đều; dữ liệu doanh nghiệp chưa được tích hợp đầy đủ; thị trường dịch vụ tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp còn hạn chế; và cơ chế tài chính công vẫn chú trọng nhiều vào kiểm soát chứng từ, nội dung chi hơn là kết quả đầu ra. Do đó, vấn đề trung tâm không còn là thiếu chính sách, mà là năng lực thực thi chính sách có kết quả có thể đo lường đối với doanh nghiệp.

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với DNNVV cần được đặt trong một cách tiếp cận thống nhất: Nhà nước không thay doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh, nhưng phải tạo ra thể chế chính sách hỗ trợ  và bảo đảm các chương trình hỗ trợ tạo ra kết quả đo lường được. Trọng tâm cải cách vì vậy cần chuyển từ số lượng chính sách sang khả năng tiếp cận và tác động của chính sách.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý theo hướng Nhà nước kiến tạo, phục vụ và quản lý dựa trên rủi ro. Việc sửa đổi, hoàn thiện chính sách hỗ trợ DNNVV cần bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Hỗ trợ DNNVV với các quy định về đầu tư, thuế, đất đai, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Mỗi chính sách cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng, cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng và chỉ tiêu kết quả. Cần giảm các yêu cầu tiền kiểm không cần thiết, mở rộng hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro và hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước. Cải cách thủ tục không nên chỉ là rút ngắn thời gian trên giấy tờ mà phải đo bằng thời gian thực tế, số lần doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ và tổng chi phí tuân thủ.

Thứ hai, xây dựng cơ chế hỗ trợ theo nhu cầu và vòng đời doanh nghiệp thay cho cách tiếp cận tương đối đồng nhất. Doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh cần ưu tiên hỗ trợ kế toán đơn giản, tuân thủ pháp luật, hóa đơn điện tử, quản trị dòng tiền và tín dụng quy mô nhỏ. Doanh nghiệp mới thành lập cần được hỗ trợ nâng cao tỷ lệ sống sót trong những năm đầu thông qua tư vấn quản trị, thị trường và dòng tiền. Doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cần tập trung vào vốn trung và dài hạn, nhân lực, tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cần cơ chế phù hợp với tài sản trí tuệ, vốn đầu tư mạo hiểm và thử nghiệm mô hình kinh doanh; doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị cần hỗ trợ chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, logistics và kết nối với doanh nghiệp đầu chuỗi. Phân nhóm đúng sẽ giúp giảm hỗ trợ dàn trải và tăng hiệu quả sử dụng ngân sách và các quỹ hỗ trợ.

Thứ ba, đẩy nhanh liên thông dữ liệu và hình thành một cửa số thống nhất cho hỗ trợ doanh nghiệp. Dữ liệu đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm xã hội, lao động, khoa học – công nghệ và lịch sử thụ hưởng chính sách cần được kết nối theo nguyên tắc bảo vệ dữ liệu và phân quyền truy cập. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể được tự động xác định nhóm đối tượng, gợi ý chương trình phù hợp, nộp hồ sơ điện tử và theo dõi tiến độ trên một nền tảng. Cơ quan nhà nước đồng thời có thể tránh cấp trùng hỗ trợ, nhận diện nhu cầu và theo dõi doanh nghiệp sau can thiệp. Quyết định số 84/QĐ-TTg năm 2026 đã đặt yêu cầu lấy DNNVV và hộ kinh doanh làm trung tâm trong hỗ trợ pháp lý; nguyên tắc này cần được mở rộng sang toàn bộ hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp.

Thứ tư, đổi mới công cụ tài chính theo hướng giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp và tăng chia sẻ rủi ro. Đối với DNNVV có dữ liệu kinh doanh minh bạch, đánh giá tín dụng cần từng bước sử dụng dòng tiền, hóa đơn điện tử, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử nộp thuế, lịch sử thanh toán và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Ngoài nguồn lực ngân sách nên huy động thêm vốn của tổ chức tín dụng và nhà đầu tư tư nhân.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả tiếp cận đất đai, công nghệ, dịch vụ tư vấn và chuỗi giá trị. Chính quyền địa phương cần công khai quy hoạch, quỹ đất, giá thuê, điều kiện và quy trình tiếp cận mặt bằng; việc thực hiện các cơ chế dành diện tích tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho DNNVV theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 phải có tiêu chí minh bạch và cơ chế giám sát. Hỗ trợ chuyển đổi số không nên dừng ở việc mua phần mềm hoặc thiết bị mà cần bắt đầu từ đánh giá mức độ sẵn sàng, xác định bài toán quản trị, lựa chọn giải pháp, đào tạo người sử dụng và đo kết quả sau triển khai. Đối với dịch vụ tư vấn, Nhà nước nên tập trung phát triển thị trường nhà cung cấp có chất lượng, công khai năng lực và kết quả, đồng thời cho phép doanh nghiệp có quyền lựa chọn đơn vị phù hợp. Việc kết nối DNNVV với doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI cần được coi là công cụ nâng cao năng lực thực tế thông qua phát triển nhà cung cấp, hỗ trợ tiêu chuẩn, chứng nhận, chuyển giao kỹ thuật và kết nối chuỗi giá trị.

Kết luận

DNNVV là lực lượng chủ yếu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nhưng phần lớn vẫn có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy và sức chống chịu hạn chế. Số doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường năm 2025 ở mức cao, song số doanh nghiệp rút lui cũng lớn. Thực tế này cho thấy chất lượng phát triển doanh nghiệp cần được nhìn nhận vượt ra ngoài chỉ tiêu thành lập mới và đặt trọng tâm vào khả năng tồn tại, nâng cao năng suất, đổi mới và mở rộng quy mô.

Khung pháp lý và chính sách hỗ trợ DNNVV của Việt Nam đã được mở rộng đáng kể, đặc biệt với các chính sách phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2025–2026. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi vẫn bị hạn chế bởi sự phân tán trong phối hợp, khó khăn tiếp cận tín dụng và đất đai, chi phí tuân thủ, dữ liệu chưa liên thông đầy đủ, tính không đồng nhất của DNNVV chưa được phản ánh đầy đủ trong thiết kế hỗ trợ và cơ chế đánh giá còn thiên về đầu vào.

Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế trong phát triển DNNVV cần được thực hiện theo hướng kiến tạo và phục vụ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số,... Hiệu quả chính sách không nên được đo chủ yếu bằng số lượng văn bản, chương trình hay hội nghị, mà bằng khả năng doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực với chi phí hợp lý và những thay đổi thực chất về năng suất, doanh thu, việc làm, công nghệ, sức chống chịu và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Đây là cơ sở để khu vực DNNVV đóng góp hiệu quả hơn vào một khu vực kinh tế tư nhân năng động, có năng suất và sức cạnh tranh cao, có khả năng thích ứng nhanh với môi trường kinh doanh luôn thay đổi.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
  2. Bộ Tài chính. (2023). Thông tư số 52/2023/TT-BTC ngày 08 tháng 8 năm 2023 hướng dẫn cơ chế sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi thường xuyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  3. Chính phủ. (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  4. Chính phủ. (2025). Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 về đăng ký doanh nghiệp.
  5. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. (2025). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2024.
  6. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. (2026). Báo cáo PCI 2025 và các chỉ báo về môi trường kinh doanh.
  7. OECD. (2021a). SME and entrepreneurship policy in Viet Nam. OECD Publishing.
  8. OECD. (2021b). Understanding SME heterogeneity: Towards policy-relevant typologies for SMEs and entrepreneurship. OECD Publishing.
  9. Quốc hội. (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14
  10. Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
  11. Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2026 phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030.

Nghị quyết 19-NQ/TW: Đổi mới mô hình phát triển, kiến tạo tương lai đất nước

DNTH: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế mà trước hết là đổi mới tư duy phát triển và phương thức quản trị.

SeABank ủng hộ 15 tỷ đồng nhằm chăm lo cho người có công với cách mạng

DNTH: Hưởng ứng lời phát động của Thủ tướng Chính phủ về phong trào “Đẩy mạnh chăm lo người có công với cách mạng” tại Hội nghị Tri ân người có công với cách mạng toàn quốc năm 2026 tổ chức ngày 23/7/2026, Ngân hàng TMCP Đông...

Hiệu quả rõ nét sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại xã Kiều Phú

DNTH: Sáng ngày 29/6, xã Kiều Phú, TP. Hà Nội đã tổ chức Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Sau một năm triển khai, mô hình mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực, góp...

Agribank triển khai chương trình “Agribank chung tay vì người nghèo, đối tượng chính sách nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026”

DNTH: Trong không khí cả nước chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Xuân Bính Ngọ 2026, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) triển khai Chương trình an sinh xã hội “Agribank chung tay vì người nghèo, đối tượng chính...

Đại hội XIV của Đảng: Nền tảng mới cho động lực tăng trưởng xanh

DNTH: Trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành nông nghiệp và môi trường đánh dấu bước chuyển quan trọng, khi tái cơ cấu ngành không dừng ở điều chỉnh kỹ thuật sản xuất mà đã trở thành quá trình đổi mới toàn diện tư duy phát triển.

Bài 2: Khi cuộc chiến bước vào kỷ nguyên dữ liệu

DNTH: Với phương châm "Kiến thức là nền tảng, công nghệ là công cụ để tiến xa", phong trào này không chỉ dựa vào chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, mà còn chú trọng nâng cao nhận thức, khuyến khích từng cá nhân tự học, chủ động...

XEM THÊM TIN