Bài toán thương hiệu nâng giá trị mật ong Việt Nam

16:00 | 04/09/2026

DNTH: Từ một sinh kế gắn với nông thôn, ngành ong Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cấp chất lượng, xây dựng thương hiệu cũng như tổ chức lại chuỗi giá trị để tạo nền tảng phát triển bền vững và mở rộng thị trường xuất khẩu.

 

Bài toán thương hiệu nâng giá trị mật ong Việt Nam  1
Du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng trong những vườn cây trái xanh mát

Cải thiện nguồn sinh kế quan trọng

Theo số liệu được công bố về ngành ong Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 1,3-1,4 triệu đàn ong, với hơn 35.000 hộ tham gia nuôi, sản lượng mật hằng năm dao động khoảng 50.000-60.000 tấn. Những con số này cho thấy tiềm năng kinh tế của nghề ong không nhỏ, nhất là tại khu vực nông thôn, nơi ngành nghề này có thể tận dụng lao động gia đình và tài nguyên bản địa.

Hiệu quả từ việc gắn đàn ong với lợi thế sinh thái địa phương có thể nhìn thấy khá rõ tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Ninh Bình). Từ khoảng 4.000 đàn năm 2016, quy mô đàn ong tại đây đã tăng lên hơn 9.000 đàn, đưa sản lượng mật sú vẹt đạt khoảng 200-300 tấn/năm. Đáng chú ý, các chương trình hỗ trợ kỹ thuật trong năm 2025 giúp nhiều hộ đạt năng suất bình quân khoảng 38 kg mật/đàn/năm, cao hơn 26,67% so với phương thức truyền thống. Con số này cho thấy khi kỹ thuật nuôi được cải thiện và nguồn hoa được khai thác phù hợp, giá trị kinh tế trên mỗi đàn ong có thể được nâng lên đáng kể.

Không chỉ rừng ngập mặn, những hệ sinh thái đặc thù khác cũng đang mở rộng không gian phát triển cho nghề ong. Ở Đồng Tháp, nguồn hoa từ rừng tràm và các vườn cây ăn trái tạo điều kiện hình thành những sản phẩm mật gắn với đặc trưng sinh thái địa phương, đồng thời có thể kết nối với du lịch trải nghiệm. Tại Vĩnh Long, mô hình nuôi ong dú trong các vườn dừa hữu cơ cho thấy hướng tiếp cận khác: thay vì xem mật ong là sản phẩm đơn lẻ, người nuôi có thể kết hợp giá trị của đàn ong với giá trị của vùng nguyên liệu và không gian nông nghiệp. Trong khi đó, Quảng Ninh với diện tích lớn rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng ngập mặn đang sở hữu dư địa đáng kể để phát triển các dòng mật có nguồn gốc vùng hoa rõ ràng.

Tuy nhiên, như đánh giá từ Trung tâm Khuyến nông Quốc gia năm 2026, điểm yếu cố hữu của ngành vẫn là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết chuỗi và chưa đầu tư đúng mức cho thương hiệu. Thách thức không nằm ở việc sản phẩm đạt bao nhiêu sao mà là ở khả năng đạt chuẩn và duy trì chất lượng sau khi được công nhận, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường.

Thương hiệu - mắt xích quyết định giá trị

OCOP cần được nhìn như một công cụ thúc đẩy chuẩn hóa thay vì chỉ là cuộc đua về số sao. Với mật ong, giá trị thương hiệu phải bắt đầu từ khả năng xác định vùng hoa, quản lý đàn, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc rồi mới đến bao bì, câu chuyện sản phẩm và hệ thống phân phối. Khi những khâu này được tổ chức thành chuỗi, người nuôi có cơ hội giữ lại phần lợi ích lớn hơn thay vì chỉ bán mật nguyên liệu.

Áp lực thị trường quốc tế càng khiến yêu cầu này trở nên cấp thiết. Bộ Công Thương năm 2025 đã khuyến nghị doanh nghiệp mật ong phải xây dựng hệ thống truy xuất từ tổ ong đến sản phẩm, bảo đảm chất lượng và các chứng nhận quốc tế để đáp ứng yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường. Trong năm 2026, câu chuyện xây dựng thương hiệu vì thế không còn dừng ở quảng bá mà gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và khả năng phòng ngừa rủi ro thương mại.

Định hướng phù hợp không phải chạy theo sản lượng bằng mọi giá mà nâng hiệu quả kinh tếtrên mỗi đàn ong và mỗi kilogram mật. Cùng một nguồn nguyên liệu, nếu được phân loại theo vùng hoa, kiểm soát chất lượng, chế biến thành sản phẩm chuyên biệt và đưa vào các kênh bán hàng có thương hiệu, lợi ích kinh tế sẽ khác xa việc bán mật thô. Khi chất lượng được chuẩn hóa, vùng nguyên liệu được quản lý và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chế biến, thị trường trong nước sẽ là nền tảng để mật ong Việt tiến xa hơn trên bản đồ xuất khẩu.

Chuẩn hóa vùng trồng để mở dư địa cho chuối tươi xuất khẩu

DNTH: Quy mô sản xuất lớn, tỷ lệ sản lượng dành cho xuất khẩu cao nhưng diện tích được cấp mã số vùng trồng chuối vẫn còn khoảng cách đáng kể. Đây là bài toán đặt ra cho ngành chuối khi muốn mở rộng thị trường và nâng giá...

Trái hồng Việt Nam tìm lợi thế cạnh tranh trước áp lực hàng nhập khẩu

DNTH: Bước vào mùa thu hoạch, trái hồng Việt Nam phải cạnh tranh với nguồn cung từ Trung Quốc, trong đó có những sản phẩm được bán với giá thấp. Sự khác biệt về giống, chất lượng và nguồn gốc đang mở ra cơ hội cho các vùng...

Hướng phát triển cho các loại hồng đặc sản giá trị cao

DNTH: Từ một loại quả theo mùa, trái hồng đang dần phân hóa thành nhiều phân khúc giá trị, trong đó những sản phẩm khan hiếm hoặc có đặc tính khác biệt được người mua chấp nhận mức giá cao. Xu hướng này mở ra hướng mới cho việc...

Khánh Hòa đưa trái nho vào chuỗi giá trị OCOP mới

DNTH: Từ lợi thế vùng sản xuất tập trung, Khánh Hòa đang đặt cây nho vào hướng phát triển sản phẩm OCOP có giá trị gia tăng cao hơn. Mục tiêu không chỉ là thêm sản phẩm được chứng nhận mà là nâng chất lượng nguyên liệu, chuẩn...

Triển khai diện rộng mã QR định danh cua Cà Mau

DNTH: Một mã QR nhỏ dán trên dây rút đang mở ra phương thức quản trị hoàn toàn mới cho ngành hàng cua Cà Mau. Bằng việc gắn mã định danh trực tiếp cho từng sản phẩm, dữ liệu từ vuông nuôi đến điểm bán được kết nối liền mạch,...

Mở rộng giá trị nghề trồng nho trong phát triển du lịch

DNTH: Từ những vườn cây phục vụ tham quan, nghề trồng nho tại khu vực phía Nam Khánh Hòa đang được mở rộng sang các giống mới, dịch vụ tại vườn và sản phẩm chế biến. Cách làm này giúp nông sản đặc trưng tham gia sâu hơn vào...

XEM THÊM TIN