Ngành nghề nông thôn Việt Nam: Mở đường từ làng nghề ra thị trường thế giới

07:51 | 08/10/2026

DNTH: Từ những lò gốm Bát Tràng, khung dệt Vạn Phúc, xưởng gỗ Đồng Kỵ đến những đôi tay đan mây tre ở Phú Vinh, ngành nghề nông thôn Việt Nam đang đứng trước một cơ hội phát triển mới. Khi người tiêu dùng thế giới ngày càng quan tâm tới sản phẩm xanh, thủ công và mang bản sắc văn hóa, câu chuyện đặt ra đến năm 2030 không chỉ là giữ nghề, mà phải biến những giá trị truyền thống thành hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Nông thôn Việt Nam đang trải qua một cuộc chuyển dịch âm thầm nhưng sâu sắc.

Nếu trước đây nói đến kinh tế nông thôn người ta thường nghĩ tới ruộng đồng, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản thì ngày nay, một bộ phận ngày càng lớn dân cư nông thôn đã chuyển sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy cả nước có gần 15,84 triệu hộ nông thôn với 31,77 triệu lao động. Đáng chú ý, khoảng 8,9 triệu hộ, tương đương 56,17% tổng số hộ nông thôn, đã có nguồn thu nhập lớn nhất từ các ngành phi nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn cũng tăng đáng kể so với một thập niên trước.

Đó là dấu hiệu cho thấy nông thôn đang chuyển dần từ một không gian chủ yếu sản xuất nông nghiệp thành một không gian kinh tế đa ngành.

Trong quá trình chuyển dịch ấy, ngành nghề nông thôn có vị trí đặc biệt. Đây vừa là nơi tạo việc làm, vừa giúp khai thác nguyên liệu bản địa, gìn giữ kỹ năng truyền thống và tạo ra những sản phẩm có giá trị văn hóa mà sản xuất công nghiệp đại trà khó thay thế.

NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN VIỆT NAM: MỞ ĐƯỜNG TỪ LÀNG NGHỀ RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 1
Ngành nghề nông thôn Việt Nam (ảnh sưu tầm internet)

Những “thương hiệu làng” đã vượt khỏi lũy tre

Có lẽ Bát Tràng là một trong những ví dụ rõ nhất về khả năng chuyển mình của một làng nghề.

Từ một làng gốm truyền thống, Bát Tràng ngày nay không chỉ sản xuất đồ gia dụng mà đã mở rộng sang gốm mỹ thuật, trang trí nội ngoại thất, quà tặng và nhiều dòng sản phẩm thiết kế hiện đại. Gốm Bát Tràng đã tiếp cận các thị trường Nhật Bản, Mỹ và EU, trong khi thương mại điện tử giúp các cơ sở sản xuất tiếp cận khách hàng mà trước đây phải phụ thuộc nhiều vào thương lái.

Điều đáng chú ý ở Bát Tràng không chỉ nằm ở sản phẩm. Làng nghề đang từng bước chuyển từ “nơi sản xuất gốm” thành một không gian văn hóa – thương mại – du lịch. Người đến Bát Tràng không chỉ mua một chiếc bình hay bộ ấm chén mà còn muốn tham quan làng cổ, xem người thợ làm gốm và tự trải nghiệm quá trình tạo ra sản phẩm.

NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN VIỆT NAM: MỞ ĐƯỜNG TỪ LÀNG NGHỀ RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 2
Sản phẩm độc đáo của làng gốm Bát Tràng (ảnh sưu tầm internet)

Vạn Phúc lại cho thấy một hướng phát triển khác.

Làng lụa nổi tiếng của Hà Nội đang kết hợp bảo tồn nghề dệt với thương mại, du lịch và chuyển đổi số. Nhiều cơ sở đã sử dụng mạng xã hội và thương mại điện tử để bán hàng; đồng thời Hà Nội

đã phê duyệt quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống Vạn Phúc kết hợp du lịch với quy mô khoảng 38,5 ha.

Điều này rất đáng suy nghĩ. Bởi nếu chỉ bán một mét lụa, giá trị thu được nằm trong sản phẩm. Nhưng nếu khách du lịch đến xem dệt lụa, tìm hiểu lịch sử làng nghề, mua sản phẩm, sử dụng dịch vụ ăn uống và trải nghiệm văn hóa thì cùng một nghề truyền thống có thể tạo ra nhiều tầng giá trị.

Ở Đồng Kỵ, thế mạnh lại nằm ở kỹ thuật chế tác gỗ mỹ nghệ. Những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật chạm khắc và tay nghề cao cho thấy lợi thế của Việt Nam trong phân khúc hàng thủ công mà máy móc khó thay thế hoàn toàn.

Còn tại Phú Vinh, mây tre đan đang mở ra một câu chuyện rất khác: cơ hội từ kinh tế xanh.

Tre, mây và các vật liệu tự nhiên đang ngày càng được quan tâm khi người tiêu dùng thế giới tìm kiếm những sản phẩm thay thế nhựa và vật liệu có tác động lớn tới môi trường. Sản phẩm Phú Vinh đã tiếp cận Nhật Bản và nhiều thị trường nước ngoài, cho thấy một nghề truyền thống hoàn toàn có thể tìm được vị trí trong xu hướng tiêu dùng hiện đại.

Bát Tràng, Vạn Phúc, Đồng Kỵ hay Phú Vinh vì thế không chỉ là những địa danh văn hóa. Đó có thể coi là những “phòng thí nghiệm” cho quá trình chuyển đổi của hàng nghìn làng nghề Việt Nam.

NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN VIỆT NAM: MỞ ĐƯỜNG TỪ LÀNG NGHỀ RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 3
Phú Vinh - làng nghề mây tre đan nổi tiếng (ảnh sưu tầm)

Nhưng phần lớn vẫn nhỏ và yếu

Nhìn trên bình diện cả nước, khoảng cách giữa tiềm năng và giá trị thực tế của ngành nghề nông thôn vẫn còn khá lớn.

Điểm yếu dễ nhận thấy là quy mô sản xuất nhỏ. Phần lớn cơ sở ngành nghề nông thôn vẫn dựa trên mô hình hộ gia đình. Điều này giúp duy trì tính linh hoạt nhưng lại hạn chế khả năng đầu tư máy móc, nghiên cứu thiết kế, kiểm soát chất lượng và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu lớn.

Một sản phẩm có thể rất đẹp khi được một nghệ nhân làm riêng lẻ, nhưng thị trường quốc tế lại đòi hỏi hàng nghìn sản phẩm phải tương đối đồng đều về kích thước, chất lượng, màu sắc và thời gian giao hàng.

Đó chính là khoảng cách giữa “sản phẩm làng nghề” và “hàng hóa quốc tế”.

Một điểm yếu khác là thiết kế.

Không ít sản phẩm thủ công Việt Nam có kỹ thuật tốt nhưng vẫn nặng về mẫu mã truyền thống. Trong khi đó, người tiêu dùng tại Tokyo, Paris hay New York có thể yêu thích chất liệu và kỹ thuật thủ công Việt Nam nhưng muốn sản phẩm có kích thước, màu sắc và công năng phù hợp với căn hộ cũng như phong cách sống của họ.

Do đó, bảo tồn nghề không đồng nghĩa với giữ nguyên mọi mẫu sản phẩm cũ. Cái cần giữ là kỹ thuật, bản sắc và tinh thần của nghề; còn thiết kế phải liên tục thay đổi theo thị trường.

Cơ hội từ EU: Không chỉ là câu chuyện thuế quan

EU là thị trường rất đáng chú ý đối với đồ gỗ, gốm sứ, mây tre, hàng dệt và sản phẩm trang trí của Việt Nam.

Hiệp định EVFTA tạo thêm lợi thế cho hàng Việt Nam tiếp cận thị trường này. Nhưng lợi thế thuế quan chỉ là một phần.

Người tiêu dùng châu Âu ngày càng quan tâm tới tính bền vững, nguồn gốc nguyên liệu, trách nhiệm xã hội và tác động môi trường của sản phẩm. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội đặc biệt đối với ngành nghề nông thôn.

Một chiếc giỏ mây được làm thủ công từ nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng, một sản phẩm gốm sử dụng quy trình sản xuất sạch hay một món đồ gỗ đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp hoàn toàn có khả năng được định vị ở phân khúc giá trị cao hơn.

Nhưng điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp và làng nghề phải thay đổi cách sản xuất: từ quản lý nguyên liệu, hóa chất, chất lượng cho đến truy xuất nguồn gốc và chứng minh trách nhiệm môi trường.

Xu hướng thị trường quốc tế đang dịch chuyển rõ rệt sang sản phẩm thân thiện môi trường, mang yếu tố văn hóa bản địa nhưng đồng thời yêu cầu cao hơn về chất lượng, khả năng giao hàng và minh bạch nguồn gốc.

Mỹ: Thị trường lớn cho sản phẩm mang tính khác biệt

Nếu EU nổi bật với yêu cầu về phát triển bền vững thì Mỹ hấp dẫn trước hết bởi quy mô tiêu dùng rất lớn.

Đồ trang trí nhà cửa, đồ gỗ, gốm, sản phẩm mây tre và quà tặng thủ công đều có dư địa. Đặc biệt, hàng thủ công Việt Nam có thể tránh cuộc cạnh tranh trực diện về giá với hàng sản xuất công nghiệp nếu xây dựng được thiết kế và câu chuyện riêng.

Khách hàng không chỉ mua một chiếc bình gốm hay chiếc giỏ tre. Họ có thể sẵn sàng trả thêm cho sản phẩm nếu biết nó được làm thủ công, sử dụng nguyên liệu tự nhiên và gắn với một cộng đồng nghề có lịch sử hàng trăm năm.

Đây chính là giá trị mà hàng sản xuất hàng loạt khó sao chép.

Tuy nhiên, thị trường Mỹ đòi hỏi năng lực cung ứng lớn, giao hàng đúng hạn, tiêu chuẩn chất lượng ổn định và khả năng làm việc chuyên nghiệp với hệ thống phân phối.

Muốn đi xa ở thị trường này, các hộ sản xuất đơn lẻ cần được tổ chức lại thành chuỗi liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp đầu mối và doanh nghiệp xuất khẩu.

Nhật Bản: Thị trường khó nhưng phù hợp với nghề Việt

Nhật Bản là một thị trường đặc biệt phù hợp với nhiều sản phẩm thủ công Việt Nam bởi người tiêu dùng nước này có truyền thống trân trọng sản phẩm thủ công, vật liệu tự nhiên và sự tinh tế trong chế tác.

Nhưng đây cũng là thị trường đòi hỏi rất cao về độ hoàn thiện.

Một sản phẩm gốm có thể phải đáp ứng những yêu cầu chặt chẽ liên quan đến vật liệu; một sản phẩm mây tre cần xử lý tốt độ ẩm, mốc và côn trùng; còn hàng dệt phải đảm bảo chất lượng, độ bền và tính ổn định.

Vì thế, Nhật Bản có thể không phải thị trường dễ đi nhất, nhưng lại là thị trường giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng chuẩn sản xuất.

Khi một sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của những thị trường khó tính như Nhật Bản hay EU, khả năng tiếp cận nhiều thị trường khác cũng sẽ rộng hơn.

Hiện hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ, EU và Nhật Bản đều thuộc nhóm thị trường quan trọng.

Từ bán sản phẩm sang bán giá trị văn hóa

Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030 xác định rõ hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thúc đẩy ứng dụng công nghệ, phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ và kết hợp ngành nghề nông thôn với du lịch.

Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề lên khoảng 6 tỷ USD, phát triển khoảng 301 làng nghề gắn với du lịch và nâng tỷ lệ làng nghề hoạt động hiệu quả lên trên 80%.

Nhưng để đạt mục tiêu đó, có lẽ cần một thay đổi quan trọng hơn cả chính sách hỗ trợ: thay đổi tư duy về giá trị của làng nghề.

Chúng ta không nên chỉ xuất khẩu chiếc bình gốm, chiếc khăn lụa hay chiếc giỏ mây.

Thứ Việt Nam có thể bán cùng sản phẩm chính là câu chuyện về vùng đất, lịch sử của nghề, bàn tay người nghệ nhân và một phương thức sản xuất thân thiện hơn với thiên nhiên.

Trong một thế giới mà hàng hóa công nghiệp ngày càng giống nhau, sự khác biệt lại trở thành thứ có giá trị.

Đến năm 2030, nếu giải quyết được những điểm nghẽn về thiết kế, vốn, môi trường, công nghệ, thương hiệu và tổ chức sản xuất, ngành nghề nông thôn hoàn toàn có thể vượt khỏi vai trò của những “nghề phụ” trong làng quê.

Khi một người thợ ở Bát Tràng có thể bán sản phẩm cho khách hàng tại Paris, người làm mây tre Phú Vinh có thể tham gia chuỗi cung ứng tại Tokyo, hay một sản phẩm thủ công của Đồng Kỵ xuất hiện trong ngôi nhà ở New York, đó không chỉ là câu chuyện xuất khẩu.

Đó là cách giá trị của làng quê Việt Nam bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Và khi ấy, bảo tồn nghề truyền thống không còn đơn thuần là giữ lại ký ức của quá khứ, mà chính là tạo dựng một ngành kinh tế có tương lai.

Gỡ nút thắt vùng nguyên liệu cho ngành chế biến mắc ca

Dù diện tích mắc ca cả nước đã vượt 46.000 ha, nguồn hạt trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu chế biến sâu. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi khoảng 30 triệu USD nhập khẩu mắc ca thô, dù xuất khẩu các sản phẩm chế biến...

Báo Mỹ đánh giá cao Vinhomes Green Paradise trong hành trình kiến tạo hình mẫu đô thị của tương lai

DNTH: Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra với tốc độ chưa từng có, sức ép từ biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, cách con người hình dung về một thành phố tương lai đang dần thay đổi. Từ góc nhìn đó, việc Vinhomes Green Paradise Cần...

Cà phê HAGL: Cây sinh trưởng tốt, năng suất vượt kỳ vọng

DNTH: Báo cáo khảo sát thực địa mới nhất từ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cho thấy chiến lược phát triển 20.000 ha cà phê của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đang gặt hái những tín hiệu rất khả quan, với...

Mở rộng cánh cửa vào thị trường châu Âu bằng thương mại điện tử

DNTH: Ngày 29/9 tại Hà Nội, Sáng kiến SheTrades thuộc Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), phối hợp với Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) và Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam tổ chức Hội thảo Khởi động Giai đoạn...

Xuất khẩu cá rô phi tăng 43%, mở đường vào phân khúc sushi Nhật Bản

DNTH: Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam đạt 90 triệu USD trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng 43% so với cùng kỳ. Bên cạnh thị trường chủ lực Brazil, cá rô phi nước lợ của Việt Nam đã bắt đầu được xuất sang Nhật Bản để phục vụ phân...

Nông nghiệp cần xuất khẩu 18 tỷ USD trong quý IV để hoàn thành mục tiêu năm 2026

DNTH: Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 56,3 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026. Ngành nông nghiệp cần mang về thêm 17,91 tỷ USD trong quý IV để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu hơn 74,2 tỷ USD cả năm.

XEM THÊM TIN