Ngành tôm hùm hướng đến giải pháp bền vững, gia tăng giá trị

11:24 | 10/08/2026

DNTH: Tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong năm 2026 đang khẳng định vị thế của tôm hùm trong nhóm mặt hàng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao của Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển dịch từ tăng trưởng theo sản lượng sang phát triển bền vững, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về con giống, quy hoạch vùng nuôi và thị trường tiêu thụ được coi là điều kiện tiên quyết.

 

Tôm hùm trở thành một trong những mặt hàng thủy sản tăng trưởng nhanh nhất của Việt Nam

 

Tín hiệu tăng trưởng tích cực

Năm 2026 ghi nhận bức tranh khá tích cực của ngành tôm hùm Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm ước đạt khoảng 585 triệu USD, tăng hơn 44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thị trường Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng của toàn ngành.

Kết quả này cho thấy nhu cầu đối với tôm hùm Việt Nam vẫn duy trì ở mức cao nhờ chất lượng sản phẩm và lợi thế về vị trí địa lý. Cùng với xu hướng tiêu dùng thực phẩm cao cấp tại nhiều nước châu Á, dư địa phát triển của ngành vẫn còn lớn, đặc biệt là tôm hùm có giá trị kinh tế cao hơn nhiều mặt hàng thủy sản truyền thống. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển. Việc xuất khẩu chủ yếu dưới dạng tôm sống khiến giá trị kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi khả năng chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế.

Điểm nghẽn vẫn nằm ở chuỗi sản xuất

Mặc dù có lợi thế tự nhiên, ngành tôm hùm vẫn đối mặt với nhiều "nút thắt" kéo dài nhiều năm. Nổi bật nhất là nguồn giống chưa chủ động, vẫn phụ thuộc lớn vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tạo áp lực lên nguồn lợi tự nhiên, ảnh hưởng đến tính ổn định của ngành. Ở khâu nuôi, nhiều vùng sản xuất vẫn phát triển tự phát, mật độ nuôi cao, thiếu quy hoạch đồng bộ và hệ thống quan trắc môi trường. Khi dịch bệnh hoặc ô nhiễm nguồn nước xảy ra, người nuôi dễ chịu thiệt hại lớn do thiếu cơ chế cảnh báo và kiểm soát rủi ro.

Một thách thức khác là cơ cấu thị trường xuất khẩu còn mất cân đối. Việc phụ thuộc lớn vào một thị trường tiêu thụ giúp xuất khẩu tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng cũng khiến ngành hàng dễ bị tác động khi chính sách nhập khẩu, kiểm dịch hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật thay đổi. Trong bối cảnh các nước ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, đây là rủi ro cần được tính đến trong chiến lược dài hạn.

Nâng cấp để tạo sức cạnh tranh

Theo các chuyên gia, dư địa phát triển của ngành tôm hùm không nằm ở việc mở rộng diện tích nuôi bằng mọi giá mà ở khả năng nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi sản xuất. Muốn vậy, ngành cần ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất giống chất lượng cao, quy hoạch vùng nuôi tập trung, kiểm soát môi trường và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Bên cạnh đó, phát triển chế biến sâu cần được xem là hướng đi quan trọng nhằm giảm phụ thuộc vào xuất khẩu tôm sống. Các sản phẩm chế biến có thể kéo dài thời gian bảo quản, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng cho mỗi đơn vị sản phẩm.

Không kém phần quan trọng là việc hình thành chuỗi liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi. Khi nguồn nguyên liệu được kiểm soát đồng bộ từ vùng nuôi đến chế biến, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn về chất lượng, còn người nuôi có đầu ra ổn định và giảm áp lực trước biến động giá cả.

Trong bối cảnh ngành thủy sản đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, tôm hùm có nhiều điều kiện để trở thành ngành hàng giá trị cao của Việt Nam. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ có thể được phát huy nếu các điểm nghẽn về con giống, quy hoạch vùng nuôi, chế biến và thị trường được giải quyết đồng bộ. Chỉ khi chuyển từ tư duy tăng sản lượng sang phát triển chuỗi giá trị bền vững, ngành tôm hùm mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

 

Sâm Ngọc Linh và dược liệu: Thời cơ hình thành ngành hàng giá trị cao

DNTH: Việt Nam đang đứng trước cơ hội đưa sâm Ngọc Linh và dược liệu trở thành ngành hàng chiến lược có giá trị cao. Thay vì chỉ mở rộng diện tích trồng, định hướng phát triển năm 2026 tập trung xây dựng chuỗi giá trị hoàn...

Mật ong Đồng Bằng Sông Cửu Long chuẩn hóa theo tiêu chuẩn OCOP

DNTH: Nhờ việc ứng dụng công nghệ tinh chế, chuẩn hóa chất lượng OCOP và tích hợp đa giá trị kinh tế, sản phẩm mật ong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) bước đầu xây dựng được nền tảng vững chắc để thâm nhập sâu vào các...

Nông sản sạch rời chợ phiên, bước vào cuộc chiến chuỗi bán lẻ cố định

DNTH: Điểm cung ứng nông sản sạch cố định thứ hai đã chính thức hoạt động trong chương trình "Đồng hành cùng nông sản sạch". Đây không đơn thuần là việc tăng thêm một mặt bằng bán bán lẻ mà là bước chuyển quan trọng đưa thực...

Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026: Nâng tầm chuỗi giá trị và thúc đẩy du lịch

DNTH: Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026: Bắt đầu từ ngày 15/8 - 02/9/2026: kỳ vọng sẽ thu hút trên 300.000 lượt khách tham quan, trải nghiệm và lưu trú tại địa phương; khẳng định vị thế Đắk Lắk là trung tâm sầu riêng của Việt Nam và...

Gà đồi Ba Vì tại xã Quảng Oai khẳng định giá trị từ quy trình chăn nuôi sạch

DNTH: Nắm bắt xu hướng tiêu dùng thực phẩm sạch, 23 hộ chăn nuôi tại xã Quảng Oai (huyện Ba Vì, TP. Hà Nội) đã tiên phong áp dụng quy trình chăn nuôi gà hữu cơ khắt khe trước khi xuất bán. Với giống gà Ri lai Mía đặc hữu, kết hợp...

Giá trị kép từ sản xuất hồ tiêu hữu cơ

DNTH: Trên những vùng đất đỏ bazan màu mỡ của tỉnh Quảng Trị, cây hồ tiêu từ lâu đã trở thành cây trồng chủ lực, góp phần tạo sinh kế cho hàng nghìn hộ nông dân.

XEM THÊM TIN